Thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài - Thành lập văn phòng đại diện công ty nước ngoài - Dịch vụ thành lập mới công ty - Thay đổi đăng ký kinh doanh - Thay đổi giấy chứng nhận đầu tư - Thay đổi địa chỉ công ty - Thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty - Thay đổi bổ sung ngành nghề kinh doanh của công ty

“ MỘT THÀNH VIÊN CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI ”

HOTLINE 84(4)35624055
hafic_info@hafic.com.vn

Hoạt động ngân hàng tài chính

Bảo hiểm không sợ khủng hoảng

Bảo hiểm không sợ khủng hoảng

 HAFIC cập nhật ngày 4/8/2009  

alt

600 sản phẩm phi nhân thọ đã đăng ký. Gần 200 sản phẩm nhân thọ được phê duyệt.

Theo phân tích và đánh giá của Công ty Cung cấp dịch vụ tư vấn và nghiên cứu thị trường toàn cầu (RNCOS), bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam sẽ tăng trưởng 25% mỗi năm và kéo dài từ năm 2009 đến 2013.

Doanh thu tăng, sản phẩm đa dạng

Mặc dù đang khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ngành kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam vẫn phát triển mạnh. Theo thống kê gần đây nhất, Việt Nam có hơn 39 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ và có khoảng 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

Doanh thu ngành bảo hiểm tăng mạnh. Trong sáu tháng đầu năm 2009, doanh thu khai thác bảo hiểm gốc đạt hơn 11 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt hơn sáu tỷ đồng, bảo hiểm nhân thọ ước đạt hơn sáu tỷ đồng. Phần còn lại là doanh thu từ hoạt động môi giới và tái bảo hiểm.

Bên cạnh đó, các mạng lưới bảo hiểm và các gói bảo hiểm xuất hiện ngày càng đa dạng. Theo thống kê của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, thị trường bảo hiểm trong nước năm 1999 chỉ có 20 sản phẩm bảo hiểm nhưng đến nay khối bảo hiểm phi nhân thọ đã có 600 sản phẩm đăng ký với Bộ Tài chính và khối bảo hiểm nhân thọ cũng có gần 200 sản phẩm bảo hiểm được Bộ Tài chính phê duyệt.

Chơi không đẹp sẽ phải bỏ cuộc

Ông Carlos Vanegas, Tổng Giám đốc Công ty Bảo hiểm Liberty, nhận xét nguyên nhân các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam tăng trưởng dữ dội là do mức sống, thu nhập của người dân ngày càng cao. Họ có nhiều tài sản đắt giá hơn như ôtô, máy bay... Những thứ đó cần được bảo vệ nên ngành bảo hiểm sẽ có nhiều cơ hội phát triển.

Cũng theo ông Carlos Vanegas, trong nền kinh tế phát triển ngày càng mạnh, các công ty, xí nghiệp muốn hoạt động bền vững sẽ phải mua bảo hiểm sức khỏe cho công nhân, cũng như bảo hiểm các loại nhà xưởng, vật chất.

Ông Carlos Vanegas cho rằng việc xuất hiện nhiều doanh nghiệp bảo hiểm cũng sẽ tạo ra sức cạnh tranh mới, mang lại nhiều lợi ích hơn cho người tham gia bảo hiểm. Với thị trường sôi động ở Việt Nam, chắc chắn thời gian tới sẽ có nhiều doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam.

Một điều quan trọng trong cuộc đua mới là các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải chuyển sang xu hướng mới. Đó là tìm cách để trả tiền bảo hiểm chứ không phải tìm cách né tránh như hiện nay. Đồng thời các doanh nghiệp phải có đội ngũ chăm sóc khách hàng chu đáo. Nếu doanh nghiệp nào không sòng phẳng và chăm sóc khách hàng tốt sẽ sớm rời bỏ thị trường.

Ở một góc độ cạnh tranh khác, ông Lai Chi Minh, Tổng Giám đốc Cathay Life Việt Nam, cho rằng các doanh nghiệp muốn tồn tại phải phát triển theo xu hướng đa dạng ngành nghề, bảo hiểm phải đi đôi với tài chính ngân hàng, như thế mới có thể bảo đảm tiềm lực kinh tế. Ngoài ra còn phải đầu tư mạnh về đội ngũ nhân lực và cần có các gói về bảo hiểm đa dạng, nếu không sẽ bị đào thải.

Theo dự đoán của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, bên cạnh việc cạnh tranh với các sản phẩm thông thường, các gói sản phẩm bảo hiểm đòi hỏi công nghệ cao như bảo hiểm hàng không, dầu khí, đóng tàu hay các công trình ngầm đang được xem là thị trường hấp dẫn và được các doanh nghiệp quan tâm.

 

Theo Bá Huy
Pháp luật

 

Chi tiết

Vay mua nhà tại HSBC, miễn lãi suất 3 tháng

Vay mua nhà tại HSBC, miễn lãi suất 3 tháng

 HAFIC cập nhật ngày 4/8/2009  

alt

Vay mua nhà tại HSBC, miễn lãi suất 3 tháng; vay mua ô tô, vay tiêu dùng miễn lãi suất tháng đầu tiên...ngân hàng HSBC Việt Nam đang triển khai hàng loạt các chương trình ưu đãi lớn.

Cụ thể, theo chương trình khuyến mại của ngân hàng HSBC Việt Nam, khách hàng vay mua nhà sẽ được miễn lãi suất vay trong 3 tháng đầu tiên, khách hàng vay tiêu dùng hoặc vay mua xe ôtô sẽ được miễn lãi suất vay tháng đầu tiên.

Chương trình khuyến mại được áp dụng từ 3/8 đến hết 30/9 cho các khách hàng cá nhân tại tất cả 10 điểm giao dịch trên toàn quốc của HSBC.

Ngoài ra, trong chương trình "HSBC ưu đãi lớn”, đối với thẻ tín dụng HSBC, chủ thẻ sẽ được miễn hoàn toàn phí thẻ thường niên cho năm đầu tiên.

Khách gửi tiết kiệm bằng VND sẽ được tặng thêm lãi suất 0,5%/năm trên mức lãi suất chuẩn (mức gửi thấp nhất 30 triệu đồng). Tiền gửi tiết kiệm bằng USD được tặng thêm lãi suất 0,2%/năm.

Không chỉ vậy, khách hàng còn được tặng thêm Bảo hiểm an toàn cá nhân nhóm A dành cho các khoản tiền gửi từ 850 triệu VND hoặc 50.000 USD với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Trong thời gian khuyến mãi lớn này, HSBC cũng sẽ tặng khách hàng nhiều sản phẩm bảo hiểm và nhiều món quà độc đáo khác.

TT

 

Chi tiết

Cần kiểm soát chặt chất lượng tín dụng

Cần kiểm soát chặt chất lượng tín dụng

 HAFIC cập nhật ngày 2/8/2009  

alt

Với chủ trương kiểm soát chặt hoạt động tín dụng của NHNN, các ngân hàng thương mại cần "siết" chặt hơn chất lượng tín dụng.

Đó là ý kiến của các chuyên gia tài chính - ngân hàng trong buổi tọa đàm về xu hướng lãi suất, tăng trưởng tín dụng diễn ra ngày 30/7 tại Trường đại học Kinh tế TP. HCM. Các chuyên gia cho rằng, chính sách tiền tệ có ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI), nhưng tác động không lớn so với yếu tố giá cả hàng hóa, đặc biệt là sự biến động của giá xăng dầu.

Việc thắt chặt tín dụng để kiềm chế lạm phát là hợp lý, song không nên kiểm soát mục tiêu ở một tỷ lệ cụ thể, mà nên kiểm soát chặt chất lượng tín dụng.

Đại diện một ngân hàng phát biểu, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam trong thời gian tới phải đảm bảo được hai mục tiêu: thứ nhất là làm sao tăng trưởng tín dụng phải đảm bảo được tăng trưởng kinh tế; thứ hai là phải trong tầm kiểm soát được lạm phát.

Trước những ý kiến trái chiều về việc duy trì hay ngưng chủ trương kích cầu của Chính phủ, vị đại diện này cho rằng, có thể thu hẹp biên độ lãi suất được hỗ trợ (từ 4%/năm xuống 3%/năm) hoặc thu hẹp đối tượng được hưởng hỗ trợ, nhất là với những doanh nghiệp xuất khẩu đang có vốn ngoại tệ duy trì trên tài khoản hoặc đem USD thế chấp để vay tiền đồng hưởng hỗ trợ lãi suất. Điều này cũng có nghĩa, chất lượng tín dụng sẽ được kiểm soát chặt chẽ.

Ông Trần Hoàng Ngân, Phó hiệu trưởng Trường đại học kinh tế TP. HCM cho biết, đã có nhiều ý kiến được đưa ra là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nên ngưng hỗ trợ lãi suất đối với một số đối tượng doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh và tư vấn, trong đó có cả hàng tiêu dùng. Quan điểm của ông Ngân là đồng tình với ý kiến nên ngưng cấp vốn hỗ trợ lãi suất đối với các doanh nghiệp đang có nguồn ngoại tệ được duy trì trên tài khoản.

Song cũng có ý kiến cho rằng, nếu ngưng cấp vốn hỗ trợ 4%/năm cho các doanh nghiệp này thì khó tránh được tình trạng kiện tụng xảy ra, vì chưa có quy định nào hạn chế đối tượng có ngoại tệ duy trì trên tài khoản không được vay vốn hỗ trợ lãi suất.

Thực tế, trong thời gian qua, không ít nhà nhập khẩu tận dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất để tiếp cận nguồn vốn giá rẻ, trong khi nguồn ngoại tệ thu về chưa vội bán ra. Bởi tâm lý của các doanh nghiệp vẫn kỳ vọng tỷ giá hối đoái sẽ tăng.

Hiện các ngân hàng bắt đầu tỏ ra thận trọng hơn trong việc cho vay hỗ trợ lãi suất. ACB cho biết, để hạn chế rủi ro, Ngân hàng luôn kiểm soát chặt khoản vốn cho vay hỗ trợ lãi suất nói riêng và hoạt động tín dụng nói chung, vì rủi ro trong cho vay là rủi ro cao nhất đối với hoạt động ngân hàng.

Mặt khác, với mục tiêu kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm nay vừa được điều chỉnh xuống 25 - 27% thì việc phát triển cho vay cũng cần có sự điều chỉnh và thận trọng hơn trước.

Thực tế, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất có chiều hướng giảm. Theo ông Hồ Xuân Nghiễm, Phó tổng giám đốc Sacombank, không phải đến thời điểm hiện nay, mà ngay từ đầu triển khai cho vay hỗ trợ lãi suất, các ngân hàng đã thận trọng. Với chủ trương kiểm soát chặt hoạt động tín dụng của NHNN, các ngân hàng sẽ "siết" chặt hơn chất lượng tín dụng.

Đối với tín dụng cá nhân (cầm cố chứng khoán, bất động sản, tiêu dùng…), nhiều ý kiến cho rằng, dư nợ tăng trưởng trong thời gian qua chỉ là sự khởi đầu sau một thời gian dài bị hạn chế.

Mặt khác, các ngân hàng cũng thận trọng trong việc lựa chọn khách hàng, chẳng hạn như chứng minh mục đích sử dụng vốn, khả năng trả nợ…, nên kiểm soát chất lượng tín dụng sẽ tốt hơn là hạn chế cho vay.

Theo Vân Linh

ĐTCK

 

Chi tiết

Kiểm soát tín dụng để ngăn lạm phát

Kiểm soát tín dụng để ngăn lạm phát

 HAFIC cập nhật ngày 29/7/2009  

alt

Chính sách tiền tệ của NHNN đang tập trung vào mục tiêu kiểm soát tín dụng chống lạm phát.

Mức tăng trưởng tín dụng liên tục được điều chỉnh trong hai tháng qua, từ 21-22% lên 25%, lên 30% rồi lại xuống 25-27% cho thấy Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bắt đầu chuyển ưu tiên của chính sách tiền tệ sang mục tiêu ngăn chặn sự trở lại của lạm phát.

Kiểm soát tăng trưởng tín dụng

Giữa tháng 7-2009 trong một cuộc họp với đại diện các ngân hàng, NHNN đã yêu cầu các tổ chức tín dụng cổ phần báo cáo kế hoạch tăng trưởng tín dụng trong những tháng còn lại của năm trước ngày 20-7-2009, đồng thời chỉ đạo mức tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng quốc doanh năm nay không vượt quá 25%.

Trong sáu tháng đầu năm, hầu hết các ngân hàng cổ phần đều đạt mức tăng trưởng tín dụng 30-50% so với cuối năm ngoái, một số ngân hàng thậm chí tăng 70-100%. Theo chỉ đạo mới nhất của Chính phủ, tăng trưởng tín dụng của toàn ngành ngân hàng cao nhất sẽ chỉ dừng ở mức 27%.

Nếu các ngân hàng quốc doanh dừng ở mức 25%, thì các ngân hàng cổ phần cũng chỉ có thể tăng trưởng tín dụng 30%. Như vậy, đa số các ngân hàng cổ phần không thể tăng trưởng thêm tín dụng, ngược lại phải điều chỉnh mức tăng nóng thời gian qua, đưa về mức 30%.

Nhiều ngân hàng cổ phần từ hơn một tháng qua đã giảm bớt cho vay tiêu dùng. Thời hạn cho vay chứng khoán từ sáu tháng đã hạ xuống tối đa ba tháng và trung bình chỉ còn 1- 1,5 tháng. Theo thống kê của NHNN, đến 30-6-2009 dư nợ cho vay chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán của ngân hàng tăng 28,31% so với cuối năm 2008.

Mức tăng này lớn hơn rất nhiều mức tăng trưởng tín dụng chung là 17%. Đấy là những khoản vay mà mục đích sử dụng vốn được ghi rõ ràng là kinh doanh chứng khoán. Tuy nhiên còn không ít những hợp đồng thế chấp giấy tờ có giá khác vay tiêu dùng, mà có thể đổ vào chứng khoán hoặc bất động sản mà các tổ chức tín dụng không thẩm định được.

Nhìn vào tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất, đã thấy những dấu hỏi cần phải làm rõ. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được vay 249.656 tỉ đồng trong tổng số 377.694 tỉ đồng kích cầu tính đến ngày 16-7-2009. Thế nhưng theo Tổng cục Thống kê, trong nửa đầu năm số tiền đầu tư vào các dự án mới của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ khoảng 100.000 tỉ đồng.

Tất nhiên vốn đầu tư cho dự án mới sản xuất kinh doanh không phải chỉ có từ nguồn kích cầu, mà còn từ các nguồn khác. Vậy phần lớn tiền vay kích cầu có thể đã được sử dụng ngắn hạn như mua nguyên vật liệu dự trữ, trả lương công nhân, giảm giá bán để “giải phóng” hàng tồn kho... hoặc đổ vào chứng khoán, bất động sản.

Trả lương công nhân không thể “tiêu hóa” hết một lượng vốn lớn. Nguyên vật liệu nhập khẩu và tiêu thụ hàng tồn kho những tháng vừa qua cũng không tăng đột biến. Vốn kích cầu đã được khối ngoài quốc doanh sử dụng vào đâu?

Những giải pháp đầu tiên

Trong thông cáo báo chí về hoạt động ngân hàng sáu tháng đầu năm, định hướng sáu tháng cuối năm, NHNN khẳng định sẽ “thực hiện các biện pháp kiểm soát cho vay đối với đầu tư kinh doanh chứng khoán và bất động sản”. Những giải pháp đầu tiên đã được tiến hành nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.

Từ 1-8-2009 lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng giảm từ 3,6% xuống còn 1,2%/năm. Đây là đợt giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc lần thứ hai. Lần đầu là cuối tháng 1-2009, từ 8,5% xuống 3,6%/năm. Cùng với động thái cắt giảm lãi suất này, giới ngân hàng phỏng đoán việc điều chỉnh theo hướng tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ sớm diễn ra.

Hiện tỷ lệ dự trữ bắt buộc khá thấp, đối với tiền gửi dưới 12 tháng là 3% và trên 12 tháng là 1% tổng vốn huy động. Giải pháp thứ hai đang được chuẩn bị. Nguồn tin của NHNN nói với TBKTSG rằng cơ quan quản lý ngành ngân hàng đã dự thảo giảm tỷ lệ sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn từ 40% xuống 30%. Nhiều khả năng quyết định này sẽ được thực hiện trong tháng 8-2009.

Hiện nay phần lớn vốn huy động của ngân hàng là ngắn hạn, chủ yếu 3-9 tháng, mà sử dụng tới 40% của nguồn này để cho vay trung, dài hạn là vô cùng rủi ro. Một số ngân hàng đã “lách luật” bằng cách tung ra các sản phẩm tiết kiệm thả nổi ba tháng cho các kỳ hạn gửi 12 tháng. Thời hạn thực gửi của khách hàng chỉ là ba tháng, nhưng trên sổ kỳ hạn gửi được ghi là 12 tháng và khoản tiết kiệm như vậy được tính là vốn huy động trung, dài hạn.

Với hai “chốt chặn” kiểm soát tăng trưởng tín dụng và giữ nguyên lãi suất cơ bản 7%/năm, trong khi giảm lãi suất dự trữ bắt buộc cộng với giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, các ngân hàng buộc phải tính toán lại chi phí đầu vào - đầu ra của đồng vốn và cho vay có chọn lọc với điều kiện chặt chẽ hơn.

Để đảm bảo an toàn mà vẫn duy trì được lợi nhuận, những ngân hàng khôn ngoan sẽ giảm bớt hoạt động tín dụng, tăng cường mảng dịch vụ. Nhưng tăng cường dịch vụ (trong đó có kinh doanh vàng, ngoại hối) đòi hỏi phải có công nghệ và trình độ.

Lợi nhuận của những ngân hàng “bám” quá chặt vào tín dụng sẽ bị ảnh hưởng. Vietcombank và ACB đang đi theo hướng này khi đẩy mạnh kinh doanh ngoại hối, trái phiếu bằng ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng và thị trường quốc tế. Chẳng hạn lợi nhuận từ dịch vụ của ACB trong sáu tháng đầu năm lên tới 46%, từ kinh doanh trái phiếu và liên ngân hàng 22%, từ tín dụng chỉ còn 32%.

Theo Hải Lý
TBKTSG

 

Chi tiết

Nên tăng lượng cung USD ra thị trường

Nên tăng lượng cung USD ra thị trường

 HAFIC cập nhật ngày 29/7/2009  

alt

Theo ông Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách, để giải quyết việc khan hiếm đồng USD tận gốc thì phải có lượng tăng cung ra thị trường.

Sau khi thực hiện một loạt chính sách như nới rộng biên độ tỷ giá giữa VND với USD, điều chỉnh giảm lãi suất đồng USD... một vài tuần qua, các doanh nghiệp (DN) lại phản ánh rằng không mua được USD.

Trong khi đó, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã bán một lượng ngoại tệ đồng USD cho một số ngân hàng thương mại. Điều này cho thấy thị trường ngoại hối lại tiếp tục căng thẳng.

Chỉ có ngân hàng khan hiếm USD

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế, nhận định tình hình khan hiếm USD trên thị trường ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, nhất là các DN nhập khẩu.

Đơn cử như Hiệp hội Thép Việt Nam vừa gửi đơn lên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu cứu về nguy cơ đình hoãn sản xuất do không mở được thư tín dụng (L/C). Nguyên nhân là do thép phế liệu (nguyên liệu chủ yếu của các nhà máy sản xuất phôi) bị ngân hàng từ chối ưu tiên đảm bảo ngoại tệ.

Cũng theo ông Doanh, việc Ngân hàng nhà nước có bán đồng USD cho một số ngân hàng thương mại lớn cho thấy các ngân hàng thương mại cũng đang khan hiếm ngoại tệ này chứ không phải chỉ có DN thiếu.

Điều đó chỉ ra rằng có một lượng ngoại tệ rất lớn đang được găm giữ. Đồng USD không được bán ra mà găm giữ lại cũng là điều rất dễ hiểu bởi tỷ giá đồng USD đang chịu áp lực rất lớn của nhập siêu do cán cân thanh toán tăng.

“Tôi cho rằng hiện nay thị trường không khan hiếm đồng USD. Bởi lẽ hiện DN không mua được ngoại tệ với tỷ giá do nhà nước quy định. Còn tại các chợ đen, DN chắc chắn mua được ngoại tệ này với tỷ giá trên 18.000 đồng/USD. Do vậy, tôi kiến nghị: Ngân hàng nhà nước cần xem xét nới rộng biên độ tỷ giá trên mức ±5% để giá đồng USD ở chợ đen xích lại gần với tỷ giá ở liên ngân hàng. Khi đó sẽ ít ai tính đến việc cất giữ USD và thị trường sẽ bình ổn trở lại” - tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói.

Nên tăng lượng cung ra thị trường

Chiều 28-7, ông Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (ĐH Kinh tế thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội), cho biết nguyên tắc của thị trường là cung phải đáp ứng cầu thì mới đảm bảo được bình ổn thị trường, không xảy ra tình trạng khan hiếm mặc dù cung và cầu phụ thuộc rất nhiều vào kỳ vọng của người cung và người cầu USD.

Theo ông Thành, ngân hàng và DN găm giữ USD là điều không có gì đáng trách cả vì họ phải lo cho kế hoạch của mình. Từ nay đến cuối năm, nhu cầu nhập khẩu của DN như thế nào thì chỉ DN mới biết được thôi.

Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, nếu có việc DN găm giữ USD cũng là điều dễ hiểu. Chừng nào DN còn nghĩ là USD vẫn còn khan hiếm, giá còn tăng thì họ còn giữ USD như một tài sản.

Ông Thành cũng nhận định để giải quyết việc khan hiếm đồng USD tận gốc thì phải có lượng tăng cung ra thị trường. Tuy nhiên, lượng USD bơm ra phải được tính toán là lượng đang thiếu, như ước tính của nhiều chuyên gia kinh tế là khoảng 2,5 tỷ USD đến 3,5 tỷ USD.

“Để đáp ứng việc thiếu hụt USD trên thị trường, có thể Chính phủ nên tăng vay nợ ở nước ngoài. Tuy nhiên, với góc độ nhà khoa học, tôi cho rằng rất khó cưỡng được việc đi vay thêm USD ở nước ngoài để cải thiện tình hình cung USD trên thị trường hiện nay cũng như lâu dài. Lúc đó, việc giữ USD có thể sẽ là rủi ro bởi lượng cung đang được găm giữ sẽ đổ ra thị trường ồ ạt và giá sẽ hạ.

Mặt khác, Chính phủ cũng có thể cung ứng USD ra từ nguồn dự trữ ngoại hối. Về bản chất, chính sách này hoàn toàn giống nhau, đều làm tăng cung trên thị trường” - ông Thành nhận định.

Tuy nhiên, ông Thành cũng cho biết kết hợp với việc bơm USD ra thị trường, ngân hàng thương mại cần thực hiện đồng bộ các chính sách khác như tuyên truyền chính sách điều hành thị trường ngoại hối, công khai nguồn cung tại thị trường.

Ví dụ: Việc Ngân hàng nhà nước công bố từ nay đến cuối năm sẽ có khoảng hai tỷ USD được cung ứng ra thị trường. Tín hiệu này sẽ được các đối tượng trên thị trường là các DN, ngân hàng thương mại tính toán đến việc giá USD sẽ giảm và hiện tượng găm giữ sẽ giảm mạnh. Như thế cùng với việc USD được bơm ra, số USD đang nằm tại các DN, ngân hàng thương mại... cũng sẽ được tung ra.

Khi đó thị trường chắc chắn sẽ không có chuyện khan hiếm nữa. Tất nhiên, nếu công bố là sẽ tung ra hai tỷ USD nhưng khi cung ra khoảng một tỷ USD mà thị trường đã bình ổn thì có thể tạm ngưng, chưa bơm tiếp số ngoại tệ còn lại. Ngân hàng nhà nước sẽ biết phải có nhiệm vụ điều tiết, cân đối cung cầu trên thị trường, đảm bảo việc các DN không thiếu USD để nhập nguyên liệu, hàng hóa.

Theo Lê Thanh

Pháp luật Tp.HCM

 

Chi tiết
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 3 trên 3

  • BIỂU LÃI SUẤT HUY ĐỘNG

Áp dụng từ ngày 18-03-2014 Lãi suất (%/Năm)
Kỳ hạn VND USD
KKH
0.5
0.1
Dưới 01 tháng 1.0 0.25
Từ 01 tháng đến 06 tháng       5.5 0.25
Từ 06 tháng trở lên Thỏa thuận 0.25
 

 

Đối tác

Bảng quảng cáo

chung cư times tower - chung cư times tower lê văn lương